The forum of documents and methods for study - Lượm lặt kiến thức


Tổng hợp sử thi Việt Nam

Share

Admin

Male Libra Monkey
Tổng số bài gửi : 1291
Tiền xu Ⓑ : 3381
Được cảm ơn № : 3
Ngày khởi sự Ngày khởi sự : 2013-01-07
Đến từ Đến từ : HCMC
Côngviệc / Sởthix Côngviệc / Sởthix : Languages, Softwares, Sciences, Martial arts
on 31st January 2016, 11:00
[postbg=http://i.imgur.com/tkC3deY.jpg]
Ðại Nam Quốc Sử diễn ca

 
Triều Nguyễn đã sai hai quan lại là Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toáisoạn bộsach Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca để diễn giải lịch sử nước nhà bằng văn vần.
         Đây là bộ sử Việt Nam bằng văn vần đầu tiên của nước ta.
 


1. Mở đầu

Nghìn thu gặp hội thăng bình,
Sao Khuê sáng vẻ văn minh giữa trợi
Lan đài dừng bút thảnh thơi,
Vâng đem quốc ngữ diễn lời sử xạnh
Nam giao là cõi ly minh,
Thiên thư định phận rành rành từ xựa
Phế hưng đổi mấy cuộc cờ,
Thị phi chép để đến giờ làm gượng

2. Kinh Dương vương


Kể từ trời mở viêm bang,
Sơ đầu có họ Hồng bàng mới rạ
Cháu đời Viêm đế thứ ba,
Nối dòng Hoả đức gọi là Đế mịnh
Quan phong khi giá Nam hành,
Hay đâu Mai lĩnh duyên sinh Lam kiều,
Vụ tiên vừa thuở đào yêu,
Xe loan nối gót, tơ điều kết duyện
Dòng thần sánh vời người tiên,
Tinh anh nhóm lại, thánh hiền nối ra,
Phong làm quân trưởng nước ta,
Tên là Lộc tục, hiệu là Kinh dượng
Hoá cơ dựng mối luân thượng
Động đình sớm kết với nàng Thần lọng
Bến hoa ứng vẻ lưu hồng
Sinh con là hiệu Lạc long trị vị

3. Lạc long quân và Âu Cơ

Lạc long lại sánh Âu kỵ
Trăm trai điềm ứng hùng bi lạ dượng
Noãn bào dù chuyện hoang đường,
Ví xem huyền điểu sinh Thương khác gỉ
Đến điều tan hợp cũng kỳ,
Há vì thuỷ hoả sinh ly như lời,
Chia con sự cũng lạ đời,
Qui sơn, qui hải khác người biệt lỵ
Lạc long về chốn Nam thuỳ,
Âu cơ sang nẻo Ba vì Tản viện
Chủ trương chọn một con hiền,
Sửa sang việc nước nối lên ngôi rộng

4. Hùng vương và nước Văn lang

Hùng vương đô ở châu Phong,
Ấy nơi Bạch hạc hợp dòng Thao giạng
Đặt tên là nước Văn lang,
Chia mười lăm bộ, bản chương cũng liện
Phong châu, Phúc lộc, Chu diên,
Nhận trong địa chí về miền Sơn tây;
Định yên, Hà nội đổi thay,
Ấy châu Giao chỉ xưa nay còn truyện
Tân hưng là cõi Hưng, Tuyên,
Vũ ninh tỉnh Bắc, Dương tuyền tỉnh Đông;
Thái, Cao hai tỉnh hỗn đồng,
Ấy là Vũ định tiếp cùng biên manh;
Hoài hoan: Nghệ; Cửu chân: Thanh;
Việt thường là cõi Trị, Bình trung chậu
Lạng là Lục hải thượng du
Xa khơi Ninh hải thuộc vào Quảng yện
Bình văn, Cửu đức còn tên,
Mà trong cương giới sơn xuyên chưa tượng
Trước sau đều gọi Hùng vương,
Vua thường nối hiệu, quan thường nối tện
Lạc hầu là tướng điều nguyên,
Vũ là Lạc tướng giữ quyền quân cơ;
Đặt quan Bồ chinh hữu tư
Chức danh một bực, đẳng uy một loại

5. Giao thiệp với Trung Hoa

Vừa khi phong khí sơ khai,
Trinh nguyên xẩy đã gặp đời Đế Nghiệu
Bình dương nhật nguyệt rạng kiêu,
Tấm lòng quì, hoắc cũng đều hướng dượng
Thần quy đem tiến Đào đường,
Bắc Nam từ ấy giao bang là đậu
Man dân ở chốn thượng lưu,
Lấy nghề chài lưới làm điều trị sịnh
Thánh nhân soi xét vật tình,
Đem loài thuỷ quái vẽ mình thổ nhận
Từ sau tục mới văn thân,
Lợi dân đã dấy, hại dân cũng trự
Dõi truyền một mối xa thư,
Nước non đầm ấm, mây mưa thái bịnh
Vừa đời ngang với Chu Thành,
Bốn phương biển lặng, trời thanh một mậu
Thử thăm Trung quớc thể nào,
Lại đem bạch trĩ dâng vào Chu vượng
Ba trùng dịch lộ chưa tường,
Ban xe tí ngọ chỉ đường Nam quỵ

6. Chuyện Phù Đổng Thiên vương

Sáu đời Hùng vận vừa suy,
Vũ ninh có giặc mới đi cầu tài,
Làng Phù đổng có một người,
Sinh ra chẳng nói,chẳng cười trơ trợ
Những ngờ oan trái bao giợ
Nào hay thần tướng đợi chờ phong vận
Nghe vua cầu tướng ra quân,
Thoắt ngồi, thoắt nói muôn phần khích ngạng
Lời thưa mẹ, dạ cần vượng
Lấy trung làm hiếu một đường phân mịnh
Sứ về tâu trước thiên đình,
Gươm vàng, ngựa sắt đề binh tiến vạo
Trận mây theo ngọn cờ đào,
Ra uy sấm sét, nửa chiều giặc tạn
Áo nhung cởi lại Linh san,
Thoắt đà thoát nợ trần hoàn lên tiện
Miếu đình còn dầu cố viên,
Chẳng hay chuyện cũ lưu truyền có khổng

7. Chuyện Sơn tinh và Thuỷ tinh

Lại nghe trong thủa Lạc Hùng
Mị châu có ả tư phong khác thường,
Gần xa nức tiếng cung trạng
Thừa long ai kẻ đông sàng sánh vải
Bỗng đàu vừa thấy hai người,
Một Sơn tinh với một loài Thuỷ tinh,
Cầu hôn đều gửi tấc thành,
Hùng vương mới phán sự tình một hại
Sính nghi ước kịp ngày mai,
Ai mau chân trước, định lời hứa ạnh
Trống lầu vừa mới tan canh,
Kiệu hoa đã thấy Sơn tinh chực ngoại
Ước sao lại cứ như lời,
Xe loan trăm cỗ đưa người nghi giạ
Cung đàn tiếng địch xa xa,
Vui về non Tản, oán ra bể Tận
Thuỷ tinh lỡ bưởc chậm chân,
Đùng đùng nổi giận, đem ân làm thụ
Mưa tuôn gió thổi mịt mù,
Ào ào rừng nọ, ù ù núi kia,
Sơn thần hoả phép cũng ghê,
Lưới giăng dòng Nhị, phen che ngàn Đoại
Núi cao sông cũng còn dài,
Năm năm báo oán, đời đời đánh ghẹn

8. Chuyện Chử Đồng tử và Tiên dung

Bổ di còn chuyện trích tiên,
Có người họ Chử ở miền Khoái chậu
Ra vào nương náu hà chậu
Phong trần đã trải mấy thâu cùng ngượi
Tiên dung gặp buổi đi chơi,
Giỏ đưa Đằng các, buồm xuôi Nhị hà,
Chử đồng ẩn chốn bình sa
Biết đâu gặp gỡ lại là túc duyện
Thừa lương nàng mới dừng thuyền,
Vây màn tắm mát kề liền bên sộng
Người thục nữ, kẻ tiên đồng,
Tình cờ ai biết vợ chồng duyên ựa
Giận con ra thói mây mưa,
Hùng vương truyền lịnh thuyền đưa bắt vệ
Non sông đã trót lời thề,
Hai người một phút hoá về Bồng châu,
Đông an, Dạ trạch đâu đâu,
Khói hương nghi ngút truyền sau muôn đợi

9. Hết đời Hồng Bàng

Bể dâu biến đổi cơ trời,
Mà so Hồng Lạc lâu dài ai hởn
Kể vua mười tám đời truyền,
Hai ngàn năm lẻ vững bền khôn lạy
Một dòng phụ đạo xưa nay,
Trước ngang Đường đế sau tầy Noãn vương

ịi Nhà Thục (258 - 207 trước TL)

1. Thần Kim quy giúp vua Thục


Thục từ dứt nước Văn lang
Đổi tên Âu lạc, mới sang Loa thạnh
Phong khê là đất Vũ ninh,
Xây thôi lại lở, công trình biết bao
Thục vương thành ý khẩn cầu,
Bỗng đâu giang sứ hiện vào kim quị
Hoá ra thưa nói cũng kỳ,
Lại tường cơn cớ bởi vì yêu tịnh
Lại hay phù phép cũng linh,
Vào rừng sát quỉ, đào thành trừ hụng
Thành xây nửa tháng mà xọng
Thục vương cảm tạ tấm lòng hiệu lịnh
Lại bàn đến sự chiến tranh,
Vuốt thiêng để lại tạ tình quân vượng
Dặn sau làm máy Linh quang,
Chế ra thần nỏ, dự phòng việc quận
2. Trung quốc đánh Âu Lạc

Bấy giờ gặp hội cường Tần,
Tằm ăn lá Bắc, toan lần cành Nạm
Châu cơ muốn nặng túi tham,
Đồ Thư, Sử Lộc sai làm hai chị
Lĩnh nam mấy chốn bièn thuỳ,
Quế lâm, Tượng quận thu về bản chượng
Đặt ra uý, lịnh rõ ràng,
Họ Nhâm, họ Triệu sai sang giữ gịn
Hai người thống thuộc đã quen,
Long xuyên, Nam hải đôi bên lấn dận
Chia nhau thuỷ bộ hai quân,
Tiên du ruổi ngựa, Đông tân đỗ thuyện
Thục vương có nỏ thần truyền,
Muôn quân buông một lượt tên còn gỉ
Nhâm Hiêu mắc bệnh trở về,
Triệu Đà lại khiến sứ đi xin hoạ
Bình giang rạch nửa sơn hà
Bắc là Triệu uỵ Nam là Thục vượng

3. Trọng Thuỷ và Mị Châu

Mặt ngoài hai nước phân cương,
Mà trong Triệu là mượn đường thông gia,
Nghĩ rẳng: Nam Bắc một nhà;
Nào hay hôn cấu lại ra khấu thụ
Thục cơ tên gọi Mị Châu
Gả cho Trọng Thuỷ, con đầu Triệu vượng
Trăm năm đã tạc đá vàng,
Ai ngờ thế tử ra đàng phụ ận
Tóc tơ tỏ hết xa gận
Thừa cơ đem máy nỏ thần đổi đi,
Tỉnh thân giả tiếng Bắc quị
Đinh ninh dặn hết mọi bề thuỷ chung
Rằng: " Khi đôi nước tranh hùng,"
" Kẻ Tần người Việt tương phùng đâu đẩy"
" Trùng lai dù hoạ có ngày,"
" Nga mao xin nhận dấu này thấy nhau"
Cạn lời, thẳng ruổi vó câu,
Quản bao liễu oán, hoa sầu nẻo xạ

4. Triệu Đà diệt Thục

Giáp binh sắp sẵn từ nhà,
Về cùng Triệu uý, kéo ra ải Tần,
An dương cậy có nỏ thận
Vi kỳ còn hãy ham phần vui chơi,
Triệu quân ruổi đến tận nợi
Máy thiêng đã mất, thế người cũng suỵ
Vội vàng đến lúc lưu li,
Còn đem ái nữ đề huề sau yên
Nga mao vẫn cứ lời nguyền,
Để cho quân Triệu theo liền bông tịnh
Kim qui đâu lại hiện linh;
Mới hay giặc ở bên mình không xa,
Bây giờ Thục chúa tỉnh ra,
Dứt tình, phó lưỡi Thái a cho nàng,
Bể Nam đến bước cùng đường,
Văn tê theo ngọn suối vàng cho xuội
Tính ra nước Thục một đời,
Ở ngôi vừa được năm mươi năm trọn
Nghe thần rồi lại tin con;
Cơ mưu chẳng nhiệm, thôi còn trách ải

ịii Nhà Triệu (207 - 111 trước TL)

1. Triệu Vũ vương thần phục nhà Hán


Triệu Vương thay nối ngôi trời,
Định đô cứ hiểm đóng ngoài Phiên ngu .
Loạn Tần gặp lúc Ngư Hồ ,
Trời nam riêng mở dư đồ một phượng
Rồng Lưu bay cõi Phiếm dương ,
Mới sai Lục Giả đem sang ấn phù .
Cõi nam lại cứ phong cho,
Biên thuỳ gìn giữ cơ đồ vững ạn
Gặp khi gà Lữ gáy càn ,
Chia đôi Hán, Việt lại toan sinh lọng
Vì ai cấm chợ ngăn sông,
Để cho dứt nẻo quan thông đôi nhạ
Thân chinh hỏi tội Tràng sa
Mân, Âu muôn dặm mở ra một lận
Hán Văn lấy đức mục lân,
Sắc sai Lục giả cựu thần lại sạng
Tỉ thư một bức chiếu vàng,
Ngỏ điều ân ý, kể đường thuỷ chụng
Triệu vương nghe cũng bằng lòng,
Mới dâng tạ biểu một phong vào chậu
Ngoài tuy giữ lễ chư hầu,
Trong theo hiệu đế làm đầu nước tạ
Trăm hai mươi tuổi mới già,
Tính năm ngự vị kể già bảy mượi

2. Triệu Văn vương và Triệu Minh vương

Văn vương vừa nối nghiệp đời,
Lửa binh đâu lại động ngoài biên cượng
Phong thư tâu với Hán hoàng,
Nghĩa thanh sớm đã giục đường cất quận
Vương Khôi vâng lịnh tướng thần,
Ải lang quét sạch bui trần một phượng
Hán đình có chiếu ban sang,
Sai con Triệu lại theo đường cống nghị
Xe rổng phút bỗng mây che,
Minh vương ở Hán lại về nối ngội
Bợm già bỗng rấm hoạ thai,
Vợ là Cù thị vốn người Hàm đan
Khuynh thành quen thói hồng nhan,
Đã chuyên sủng ái lại toan tranh hạnh
Dâng thư xin với Hán đình,
Lập con thế tử, phong mình cung phị

3. Cù thị xin nhập Hán

Ai vương thơ ấu nối vì,
Mẹ là cù hậu, nhiều bề riêng tậy
Cầu phong đã rắp những ngày,
Ngoài thông Bắc sứ trong gầy lệ giại
Khéo đâu dắc díu lạ đời,
Sứ là Thiếu Quý vẫn người tình nhận
Hoa tàn lại bén hơi xuân,
Giao hoan đôi mặt, hoà thân một lọng
Nghĩ rằng: về Hán là xong,
Tình riêng phải mượn phép công mới giạ
Làm thư gửi sứ đưa qua;
Mẹ con đã sắm sửa ra sang chậu

4. Lữ Gia phá mưu Cù Thị

Lữ Gia là tướng ở đậu
Đem lời can gián bây mưu xa gận
Một hai ngăn đón hành trần:
" Để cho Triệu bích về Tần sao nện"
Nàng Cù đã quyết một bện
Lại toan mượn lấy sứ quyền ra tạy
Tiệc vui chén cúc giở say,
Mắt đưa cao thấp, giáo lay dùng dặng
Đang khi hoan yến nửa chừng,
Lữ Gia biết ý ngập ngừng bước rạ
Chia quân cấm lữ về nhà,
Tiềm mưu mới họp năm ba đại thận
Đôi bên hiềm khích thêm phần
Mụ Cù yếu sức, sứ thần non gạn

5. Hán đánh Nam Việt

Vũ thư đạt đến Nam quan,
Hán sai binh mã hai ngàn kéo sang
Lữ Gia truyền hịch bốn phương:
Nỗi Hưng thơ dại, nỗi nàng dâm ô;
Tình riêng chim Việt ngựa Hồ,
Chuyên vần báu ngọc các đồ sạch khộng
Rắp toan bán nước làm cộng
Quên ơn thủa trước, không lòng mai sạu
Cũng tuồng Lữ Trĩ khác đâu,
Chồi non chẳng bẻ, rễ sâu khó đạo
Quan binh một trận đổ vào,
Lửa nào tiếc ngọc, nắng nào tiếc hoạ

6. Nhà Triệu mất

Vệ Dương lên nối nghiệp nhà,
Trong là quốc nạn, ngoài là địch nhận
Hai nghìn giết sạch Hán quân,
Đem cờ sứ tiết để gần ải quạn
Tạ từ giả tiếng nói van,
Mấy nơi yếu hại sai quan đề phòng,
Bỗng đâu Hán lại tiếp sang,
Một kỳ tịnh tiến, năm đường giáp cộng
Trong thành một ngọn lửa thông,
Chiêu hàng ngoài mạc, hội đồng các dịnh
Chạy ra lại gặp truy binh,
Vệ vương, Lữ tướng buộc mình cửa hiện
Kể từ Triệu lịch kỷ niên,
Năm ngoài chín chục, ngôi truyền năm vụa
Trách ai gây việc tranh đua,
Vắn đài vận nước, được thua cơ trợi

ỊI Thời kỳ chống Bắc thuộc (Thế kỷ 2 trước TL - thế
kỷ 10 sau TL)

ịv Nhà Hán và Hai bà Trưng (111 trước TL 43 sau TL)

1. Chính sách nhà Tây Hán


Giao Châu mới thuộc nước người,
Ấy về Tây Hán là đời Nguyên phong .
Bản đồ vào sách hỗn đồng,
Đất chia chín quận , quan phong thú thần .
Đầu sai Thạch Đái trị dân,
Cầm quyền tiết việt giữ phần phong cượng
Tuần tuyên mới có Tích Quang,
Dạy dân lễ nghĩa theo đường hoa phong .
Nhâm Diên khuyên việc canh nông,
Đổi nghề ngư liệp về trong khuê điền .
Sính nghi lại giúp bổng tiền,
Khiến người bần khổ thoả nguyền thất giạ
Văn phong nhức dấy gần xa,
Tự hai hiền thú ấy là khai tiện
Luân hồi trăm có dư niên,
Trải qua Đông Hán thừa tuyên mấy ngượi

2. Hai bà Trưng dựng nền Dộc lập

Đường ca lâu đã vắng lời,
Đến như Tô Định là người chí hụng

Bà Trưng quê ở châu Phong,
Giận người tham bạo thù chồng chẳng quện
Chị em nặng một lời nguyền,
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quận
Ngàn Tây nổi áng phong trần,
Ầm ầm binh mã xuống gần Long biện
Hồng quần nhẹ bước chinh yên,
Đuổi ngay Tô Định dẹp tan biên thạnh
Đô kỳ đóng cõi Mê Linh,
Lĩnh nam riêng một triều đình nước tạ
Ba thu gánh vác sơn hà,
Một là báo phục, hai là bá vượng
Uy thanh động đến Bắc phượng
Hán sai Mã Viện lên đường tiến cộng
Hồ Tây đua sức vẫy vùng,
Nữ nhi chống với anh hùng được nảo
Cấm Khê đến lúc hiểm nghèo,
Chị em thất thế cũng liều với sộng
Phục Ba mới dựng cột đồng,
Ải quan truyền dấu biên công cõi ngoại
Trưng vương vắng mặt còn ải
Đi về thay đổi mặc người Hán quan

v. Giao Châu trong thời Bắc thuộc (43 - 544)

1. Chính sách nhà Đông Hán


Trải Minh, Chương đến Hiếu, An ,
Tuần lương đã ít, tham tàn thiếu đậu
Mới từ Thuận đế về sau,
Đặt quan thứ sử thuộc vào chức phương .
Kìa như Phàn Diễn, Giả Xương,
Chu Ngu, Lưu Tảo dung thường kể chị
Trương Kiều thành tín phủ tuy ,
Chúc Lương uy đức, man di cũng gận
Hạ Phương ân trạch ngấm nhuần,
Một châu tiết việt hai lần thừa tuyện

2. Lý Tiến, Lý Cầm làm quan nhà Hán

Tuần lương lại có Mạnh Kiên,
Khúc ca Giả phủ vang miền trung chậu
Ba năm thăng trạc về chầu,
Thổ quan Lý Tiến mới đầu Nam nhận
Sở kêu:" Ai chẳng vương thần,
Sĩ đồ chi để xa gần khác nhảu"
Tình từ động đến thần lưu,
Chiếu cho cống sĩ bổ châu huyện ngoại
Lý Cầm chầu chực điện đài,
Nhân khi Nguyên đán kêu lời xa xội
Rằng:" Sao phủ tái hẹp hỏi
Gió mưa để một cõi ngoài Viêm phương " .
Tấm thành cũng thấu quân vương,
Trung châu lại mới bổ sang hai ngượi
Nước Nam mấy kẻ nhân tài,
Mới cùng người Hán chen vai từ rạy

3. Họ Sĩ tự chủ

Lửa lò Viêm Hán gần bay,
Thế chia chân vạc, nào hay cơ trợi
Tranh nhau ba nước ba nơi,
Cầm quyền sinh sát mặc người phong cượng
Nho lưu lại có Sĩ vương,
Khơi nguồn Thù Tứ , mở đường lễ vặn
Phong tiêu rất mực thú thần,
Sánh vai Đậu Mục, chen chân Triệu Đạ
Sĩ Huy nối giữ tước nhà,
Dứt đường thông hiếu, gây ra cừu thụ
Cửa hiên phút bỗng hệ tù,
Tiết mao lại thuộc về Ngô từ rậy

4. Bà Triệu Ẩu đánh Ngô

Binh qua trải bấy nhiêu ngày,
Mới sai Lục Dận sang thay phiên thận
Anh hùng chán mặt phong trần,
Nữ nhi lại cũng có lần cung đạo
Cửu chân có ả Triệu kiều,
Vú dài ba thước tài cao muôn ngượi
Gặp cơn thảo muội cơ trời,
Đem thân bồ liễu theo loài bồng tạng
Đầu voi phất ngọn cờ vàng,
Sơn thôn mấy cõi chiến trường xông phạ
Chông gai một cuộc quan hà ,
Dù khi chiến tử còn là hiển lịnh

5. Ngô Tấn tranh nhau Giao Châu

Từ giờ Ngô lại tung hoành,
Đặt làm Giao, Quảng hai thành mới phận
Tôn Tư rồi lại Đặng Tuân,
Lữ Hưng, Dương Tắc mấy lần đổi thạy
Đổng Nguyên, Lưu Tuấn đua tay,
Kẻ Ngô, người Tấn những ngày phân trạnh
Đào Hoàng nối dựng sứ tinh,
Tân xương, Cửu đức, Vũ bình lại chịa
Mười năm chuyên mặt phiên ly,
Uy gia bốn cõi, ân thuỳ một chậu
Khi đi, dân đã nguyện lưu ,
Khi già, thương khóc khác nào từ thận

6. Chính sách nhà Tấn

Ngô công nối dấu phương trần ,
Hai mươi năm lẻ nhân tuần cũng yện
Dân tình cảm kết đã bền,
Tước nhà Cố Bật lại truyền Cố Thạm
Dân tình khi đã chẳng kham,
Dẫu là Cố Thọ muốn làm ai nghẹ
Quận phù lại thuộc Đào Uy,
Rồi ra Đào Thục, Đào Tuy kế truyện
Bốn đời tiết việt cầm quyền,
Phiên bình muôn dặm, trung hiền một mộn
Tham tàn những lũ Vương Ôn,
Binh qua nối gót, nước non nhuộm trận
Tấn sai đô đốc tướng quân,
Sĩ Hành là kẻ danh thần chức cạo
Dẹp yên rồi lại về trào,
Uy danh nào kém họ Đào thuở xựa
Nguyễn Phu tài trí có thừa,
Phá năm mươi luỹ tảo trừ giặc Mạn

7. Họ Đỗ ba đời làm thứ sử

Châu diên lại có thổ quan,
Đỗ công tên Viện dẹp đoàn Cửu chận
Tướng môn nối chức phiên thần,
Con là Tuệ Độ thêm phần uy dạnh
Bổng riêng tán cấp cùng manh,
Cơm rau áo vải như hình kẻ quệ
Dâm từ cấm thói ngu mê,
Dựng nhà học hiệu giảng bề minh luận
Ân uy ra khắp xa gần,
Cửa thành đêm mở, gió xuân một trợi
Hoàng Văn phủ ngữ cũng tài,
Một nhà kế tập ba đời tuần lượng

8. Giao châu loạn

Đến triều Lưu Tống hưng vương,
Hoà Chi, Nguyên Cán sai sang hội động
Đuổi Dương Mai, giết Phù Long,
Khải ca một khúc tấu công về trạo
Gió thu cuốn bức chinh bào,
Y thường một gánh, qui thiều nhẹ khộng
Từ khi vắng kẻ chiết xung,
Tràng Nhân, Lưu Mục tranh hùng mấy phẹn
Pháp Thừa cũng chức tuần tuyên,
Những chăm việc sách để quyền lại tỵ
Dưới màn có Phục đăng Chi,
Cướp quyền châu mục, lộng uy triều định
Tề suy, Nguyên Khải tung hoành,
Hùng phiên chiếm giữ cô thành một phượng
Bắc triều đã thuộc về Lương,
Lại sai Lý Thốc chiêu hàng nẻo xạ
Giao châu một giải sơn hà,
Ái Châu lại mới đặt ra từ rạy

vị Nhà Tiền Lý (544 - 603)

1. Lý Nam Đế dựng nền độc lập


Kể từ Ngô, Tấn lại đây,
Hai trăm mười bốn năm chầy cát phận
Cỏ cây chan chứa bụi trần,
Thái bình mới có Lý Phần hưng vượng
Vốn xưa nhập sĩ nước Lương,
Binh qua gặp lúc phân nhương lại vệ
Cứu dân đã quyết lời thề,
Văn thần, vũ tướng ứng kỳ đều ra,
Tiêu Tư nghe gió chạy xa,
Đông tây muôn dặm quan hà quét thạnh
Vạn Xuân mới đặt quốc danh,
Cải nguyên Thiên đức, đô thành Long biện
Lịch đồ vừa mới kỷ niên,
Hưng vương khí tượng cũng nên một đợi
Quân Lương đâu đã đến ngoài,
Bá Tiên là tướng đeo bài chuyên chịnh
Cùng nhau mấy trận giao binh,
Thất cơ Tô Lịch, Gia ninh đôi đượng
Thu quân vào ở Tân xương,
Để cho Quang Phục chống Lương mặt ngoại
Mới hay " nhật phụ mộc lai,"
Sấm văn trước đã an bài những khị

2. Triệu Quang Phục phá Lương

Bấy giờ Triệu mới thừa ky ,
Cứ đầm Dạ trạch, liệu bề tấn cộng
Lý vương phút trở xe rồng ,
Triệu Quang Phục mới chuyên lòng kinh doạnh
Hương nguyền trời cũng chứng minh,
Rông vàng trao vuốt giắt vành đầu mậu
Từ khi long trảo đội đầu,
Hổ hùng thêm mạnh, quân nào dám đượng
Bá Tiên đã trở về Lương,
Dương Sằn còn ở chiến trường tranh đụa
Một cơn gió bẻ chồi khô ,
Ải lang dứt dấu ngựa Hồ vào ra,
Bốn phương phẳng lặng can qua ,
Theo nền nếp cũ, lại ra Long thạnh

3. Lý Phật Tử đánh Triệu quang Phục

Lý xưa còn có một cành,
Tên là Thiên Bảo náu mình Ai Lạo
Chiêu binh lên ở Động đào,
Họ là Phật Tử cũng vào hội minh .
Đào lang lại đổi quốc danh,
Cũng toan thu phục cựu kinh của nhạ
Cành dâu mây toả bóng tà ,
Bấy giờ Phật Tử mới ra nối giòng,
Rừng xanh gió phất cờ hồng,
Đề binh kéo xuống bẹn sông tung hoạnh
Triệu vương giáp trận Thái bình,
Lý thua rồi mới thu binh xin hoạ
Triệu về Long đỗ Nhị hà,
Lý về Hạ mỗ, ấy là Ô diên .
Hai nhà lại kết nhân duyên,
Nhã lang sánh với gái hiền Cảo nượng
Có người: Hống, Hát họ Trương,
Vũ biền nhưng cũng biết đường cơ mựu
Rằng:" Xưa Trọng Thuỷ, Mỵ Châu,
Hôn nhân là giả, khấu thù là chận
Mảnh gương vãng sự còn gần,
Lại toan dắc mối Châu Trần sao nển"
Trăng già sao nỡ xe duyển
Để cho Hậu Lý gây nền nội cộng
Tình con rể, nghĩa vợ chồng,
Tin nhau ai biết ra lòng lừa nhạu
Lâu la mới ngỏ tình đâu,
Nhã lang trộm lấy đâu mâu đổi liện
Trở về giả chước vấn yên,
Giáp binh đâu đã băng miền kéo sạng
Triệu vương đến bước vội vàng,
Tình riêng còn chửa dứt đường cho quạ
Đem con chạy đến Đai nha,
Than thân bách chiến phải ra đường cùng!

4. Lý Phật Tử hàng Tuỳ

Từ nay Phật Tử xưng hùng,
Hiệu là Nam đế nối dòng Lý vượng
Phong châu mới mở triều đường .
Ô diên, Long đỗ giữ giàng hai kịnh
Tuỳ sai đại tướng tổng binh,
Lưu Phương là chức quản hành Giao chậu
Đô long một trận giáp nhau,
Xin hàng Lý phải sang chầu Tấn dượng
Từ giờ lại thuộc Bắc phương,
Mấy năm Tuỳ loạn rồi Đường mới rạ

vịi Nền đô hộ của nhà Đương (603 - 905)

1. An nam đô hộ phủ


Quan Tuỳ lại có Khâu Hoà,
Đem dâng đồ tịch nước ta về Đượng
An nam mới lại canh trương,
Đặt Đô hộ phủ theo đường Trung Hoạ
Mười hai châu lại chia ra:
Giao, Phong, Lục, Ái, Chi, Nga, Diễn, Trạng
Vũ an, Phúc Lộ, Hoan, Thang,
Cơ mi các bộ man hoang ở ngoại

2. Mai Thúc Loan khởi nghĩa

Quan Đường lắm kẻ tham tài,
Binh dân hàm oán, trong ngoài hợp mựu
Mai Thúc Loan ở Hoan Châu,
Quân ba mươi vạn ruổi vào ải xạ
Hiệu cờ Hắc đế mở ra,
Cũng toan quét sạch sơn hà một phượng
Đường sai Tư Húc tiếp sang,
Hợp cùng Sở Khách hai đàng giáp cộng
Vận đời còn chửa hanh thộng
Nước non để giận anh hùng nghìn thụ

3. Giặc Đồ Bà

Trấn nam lại đổi tên châu,
Một đời canh cải trước sau mấy kỵ
Xa khơi ngoài chốn biên thuỳ,
Đồ bà giặc mọi đua bề phân trạnh
Bá Nghi hợp với Chính Bình,
Dẹp đoàn tiểu khấu, xây thành Đại Lạ

4. Phùng Hưng khởi nghĩa

Xiết bao phú trọng, chính hà,
Sinh dân sầu khổ ai là xót chẳng
Đường lâm mới có Phùng Hưng,
Đã tài kiêu dũng, lại lưng phú hạo
Cõi Tây nổi việc cung đao,
Đô quân tôn hiệu, Tản Thao hiệp tịnh
Đem quân thẳng đến vây thành,
Đại La thế bức, Chính Bình hồn tiệu
Nhân phủ trị mở ngôi triều,
Phong châu một giải nhiếp điều mấy niện
Đế hương phút trở xe biền,
Đại vương Bố Cái tiếng truyền muôn thụ
Phùng An con nối thơ ngu,
Nghe quan nhu viễn bầy mưu hàng Đượng

5. Chuyện Lý Ông Trọng

Kể từ đô hộ Triệu Xương,
Thành La xây lại vững vàng hơn xựa
Thuyền chơi qua bến sông Từ,
Giấc nồng đâu bỗng tình cờ lạ sạo
Thấy người hai trượng dài cao,
Bàn kinh, giảng truyện khác nào văn nhận
Cùng nhau như gửi tâm thần,
Tỉnh ra mới rõ nguyên căn tỏ tượng
Lý Ông Trọng ở Thuỵ hương,
Người đời vua Thục mà sang thi Tận
Hiếu liêm nhẹ bước thanh vân,
Làm quan hiệu uý đem quân ngữ Hồ .
Uy danh đã khiếp Hung nô,
Người về Nam quốc, hình đồ Bắc phượng
Hàm dương đúc tượng người vàng,
Uy thừa còn giúp Tần hoàng phục xạ
Hương thơm cổ miếu tà tà,
Từ nay tu lý mới là phong quạng

6. Quan lại nhà Đường

Triệu công tuổi tác về Đường,
Quý Nguyên, Bùi Thái tranh quyền với nhạu
Triều đình kén kẻ trị châu,
Triệu công vâng mệnh xe thiều, lại sạng
Bản kiều vừa nhận dấu sương,
Bến hồng đã định, khói lang cũng tạn
Trương Đan thay chức phiên hàn,
Tập nghề thuỷ chiến, tạo thuyền đồng mộng
Đại la mới đắp luỹ vòng,
Ái, Hoan thành cũ đều cùng tái tụ
Quan tham ai chẳng oán thù,
Kìa như Tượng Cổ sư đồ bạn lỵ
Quan hiền ai chẳng uý uy,
Kìa như Mả Tổng man di đầu hạng
Nguyên Gia dời phủ Tô giang,
Đến năm Bảo lịch dời sang Tống bịnh
Giao châu binh mã tung hoành,
Thăng Triều đã dẹp, Dương Thanh lại nộng
Kìa ai tôn trở chiết xung,
Mã công tên Thực anh hùng kém chị
Tiết thanh cảm vật mới kỳ,
Dưới dòng Hợp phố châu đi cũng vệ
Kiềm châu xa ruỗi mã đề,
Hồng bay còn dấu tuyết nê chưa mọn
Nhũng quan lại gặp Vũ Hồn,
Thành lâu lửa cháy, dinh đồn quân rẹo
Đoàn công vâng mệnh Đường triệu
Trước xe phủ dụ, giặc nào chẳng tạn
Thôi trung thổ, lại ngoại man,
Châu Nhai, Nguyên Hựu sai quan mấy lận
Nho môn có kẻ tướng thần,
Họ Vương tên Thức kinh luân gồm tại
Thành môn nghiêm nghị trong ngoài,
Trồng cây trúc mộc, tập bài cung đạo
Châu dân đều thấm ân cao,
Chiêm thành, Chân lạp cũng vào hiệu cụng

7. Giặc Nam Chiếu

Xe thiều vừa trở về Đông,
Giặc Man thừa khích ruổi giong cõi ngoại
Vương Khoan, Lý Hộ phi tài,
Đường sai Thái Lập lĩnh bài Giao Chậu
Biên thư mấy bức về tâu,
Kẻ xin lưu thú, người cầu bãi bịnh
Ghen công vi hoặc, Thái Kinh,
Thờ ơ để việc biên tình mặc ại
Tiếc thay muôn dặm thành dài,
Cô quân nên nỗi thiệt tài chiết xụng
Ngu Hầu tiếp chiến bên sông,
Quyết liều một trận đều cùng quyên sịnh
Vua Đường tuyên chỉ triệt binh,
Bỏ hàm Đô hộ, đặt hành Giao Chậu
Trấn, đồn, cửa bể, đâu đâu,
Tống Nhung, Thừa Huấn hợp nhau một đượng
Dùng dằng nào dám tiến sang,
Tám ngàn quân bỏ cương tràng sạch khộng
Dối tâu lại muốn cầu công,
Rồi ra sự phát đều cùng nghị lựu

 

8. Cao Biền dẹp Nam Chiếu

Cao Biền là tướng lạc điêu,
Tài danh sớm đã dự vào giản trị
Quân phù vâng lệnh chỉ huy,
Tiệp thư sai một tiểu ty về chậu
Gia quan cho lĩnh tiết mao,
Đặt quân Tĩnh hải biên vào bản chượng
Một châu hùng cứ xưng vương,
Thành La rộng mở, kim thang vững bện
Tuần hành trải khắp sơn xuyên,
Đào Thiên uy cảng, thông thuyền vãng lại
Chín năm khép mở ra tài,
Thành trì truyền dấu, miếu đài ghi cộng
Rồi khi trở ngựa Hán trung,
Cao Tầm là cháu nối dòng xưng phiện
Họ Tăng, tên Cổn cũng hiền,
Giao Châu di ký còn truyền một chượng


Xem tiếp tại sugia.vn

Hội Khoa Học Lịch Sử Bình Dương

Các tin khác


Last edited by QaniTri on 22nd August 2016, 12:23; edited 1 time in total

Admin

Male Libra Monkey
Tổng số bài gửi : 1291
Tiền xu Ⓑ : 3381
Được cảm ơn № : 3
Ngày khởi sự Ngày khởi sự : 2013-01-07
Đến từ Đến từ : HCMC
Côngviệc / Sởthix Côngviệc / Sởthix : Languages, Softwares, Sciences, Martial arts
on 31st January 2016, 11:11


ĐẠI VIỆT SỬ THI 
(30 quyển) 
Tác giả: Hồ Ðắc Duy 

QUYỂN I 

CHƯƠNG MỞ ĐẦU 
  
Dân tộc ta từ ngày dựng nước 
Giòng sử thiêng đã được viết ra 
Hằng nghìn năm trước trôi qua 
Đất đây đã có quốc gia Việt Thường 
  

THỜI ĐẠI HỒNG BÀNG   
(2879 - 257 TCN) 
  
Vua Thần Nông vốn giòng Lạc Việt 
Cháu : Đế Minh . Nối nghiệp vua ban (2879 TCN) 
Rừng xanh, Ngũ Lĩnh chiêm quan 
Phương Nam chọn đất , cưới nàng Vụ Tiên 

  
KINH DƯƠNG VƯƠNG - XÍCH QUỶ 
  
Với mỹ nhân xe duyên kết tóc 
Sinh ra đời Lộc Tục hoàng nam 
Cắm lều, dựng trại, chiêu dân 
Đặt tên Xích Quỷ giang sơn một vùng 
  
Kinh Dương Vương xưng hùng một cõi 
Đất nước dài một giải mênh mông 
Kết hôn con gái Thần Long 
Sinh ra Sùng Lãm nối dòng Vương gia 
  

LẠC LONG QUÂN 
  
Lạc Long Quân có bà vợ trẻ 
Nàng Âu Cơ diễm lệ thướt tha 
Bà sinh một bọc trứng ngà 
Một trăm trứng nở thành ra trăm người 
  
Đi theo cha, năm mươi về tới 
Bỏ núi rừng ra mãi Biển Đông 
Mẹ cha dòng dõi : Tiên , Rồng 
Như rừng với biển khó lòng cùng nhau 
  

HÙNG VƯƠNG - VĂN LANG 
  
Mãi về sau, Long Quân chọn được 
Đất Phong Châu khí vượng kinh đô 
Văn Lang lập quốc bấy giờ 
Hùng Vương xưng đế, cõi bờ tuần tra 
  
Nước Văn Lang, nhìn ra Đông Hải 
Động Đình Hồ ở mãi Bắc phương 
Bờ Tây : Ba Thục chắn đường 
Phía Nam giáp nước Hồ Tôn của Chàm 
  
Chia đất nước ra làm mấy bộ 
Lấy Văn Lang làm chỗ trung quân 
Việt Thường, Ninh Hải, Cửu Chân 
Hoài Hoan, Giao Chỉ, Bình Văn, Dương Tuyền 
  
Miền Vũ Dịch, Chu Diên, Cửu Đức 
Miền Tân Hưng, Phúc Lộc, Vũ Ninh 
Ngoài xa Lục Hải mấy thành   
Bên trong Lạc Tướng vây quanh bên ngài 
  
Người Bách Việt chen vai sát cánh 
Sống quây quần bên nhánh sông Lô 
Đất, rừng trù phú trời cho 
Dân chuyên nông nghiệp, rành đồ gốm nung 
  
Nền Văn Hóa Đông Sơn rực rỡ 
Chế Trống Đồng dùng ở khắp nơi 
Khai sinh tục vẽ trên người 
Xâm mình để tránh các loài dưới sông 
  
Vào cuối đời Vua Hùng thứ sáu 
Phù Đổng hương có cậu con trai 
Lên ba chẳng nói chẳng cười 
Nghe tin giặc đến liền đòi sứ vô 
  
Tâu Hoàng Thượng : Xin cho thảo tặc 
Sẽ đánh nhừ tan tác giặc Ân 
Xin đúc ngựa sắt roi thần 
Để làm vũ khí đánh quân bạo tàn 
  
Rồi vươn vai, xua tan lũ giặc 
Xong quay về đến đất Sóc Sơn 
Áo nhung bỏ lại bên đường 
Dấu chân Phù Đổng Thiên Vương nay còn   
  
Đời Thành Vương, vua sai đem lễ (1062 TCN) 
Biếu nhà Chu : Bạch trĩ vũ mao 
Mở đầu hai nước bang giao 
Chu công đáp lại , xe trao đưa về   
  
Nàng Mị Nương muôn bề sắc sảo 
Trai Thục bang kỉnh báo cầu thân 
Vua Hùng hỏi ý quần thần 
Xét rằng bên Thục mười phân đáng ngờ 
  
Việc hôn nhân chẳng qua là tính 
Dùng mưu ngầm kiêm định Văn Lang 
Vua Hùng đã biết ý gian 
Lựa lời từ chối Thục Vương việc này 
  
Lại treo bảng kén tài phò mã 
Ai nhanh chân sẽ gả Mị Nương 
Sơn Tinh sớm, được hưởng hương 
Chậm chân chàng Thủy đau thương hận thầm 
  
Thủy Tinh thề , mổi năm làm lụt 
Ra oai thần mưa trút nước dâng 
Thục Vương xấu hổ còn hơn 
Dặn cho con cháu quyết tâm trả thù 
  

THỜI ĐẠI NHÀ THỤC (257 - 208 TCN)   
AN DƯƠNG VƯƠNG ÂU LẠC 
  
Năm Giáp Thìn (257TCN) bấy giờ Thục Phán 
Xâm lấn dần địa phận Văn Lang 
Tự xưng hiệu An Dương Vương 
Kinh đô đóng ở Việt Thường Phong Khê 
  
Bỏ quốc hiệu Văn Lang ngày trước (257TCN) 
Đổi ra thành Âu Lạc từ đây 
Tính theo năm tháng đến rày 
Hăm bảy thế kỷ , kế thay vua Hùng 
  
Đời cuối cùng của giòng Hồng Lạc 
Tính ra là mười tám Hùng Vương 
Trải bao điền hải tang thương 
Đến nay Thục Phán chiếm luôn riêng mình 
  
Chọn được chỗ lương điền đất tốt 
Vua cho người động thổ khởi công 
Cổ Loa thành gọi Tư Long 
Xoay theo xoắn ốc từ trong ra ngoài 
  
Thành Tư Long xây hoài chẳng được 
Thần Kim Quy bày chước trừ ma 
Dặn rằng dù có can qua 
Linh Quang, Kim Trảo, móng ta cho người 
  
Cổ Loa thành bời bời dũng khí 
Tường thì cao, hào rộng lại sâu 
Giang sơn Vua Thục từ sau 
Linh Giang Nam Bắc đối đầu Trung Hoa 
  
Tần Thủy Hoàng làm vua Trung Quốc 
Cho Nhâm Ngao đất được một miền (214TCN) 
Triệu Đà giữ trấn Long Xuyên 
Phía Nam Thiên Đức thuộc quyền Thục Vương 
  
Đất Nam phương lăm le muốn lấy 
Đã mấy lần thất bại mưu sâu 
Sai con Trọng Thủy sang hầu 
Làm quan Túc Vệ, bắc cầu thông gia 
  
Chàng Trọng Thủy nghe cha đánh cắp 
Lấy nỏ thần bẻ gập làm đôi 
Âm thầm để tạm một nơi 
Đánh lừa vua Thục và người chung quanh 
  
Cuộc chiến tranh về sau xảy đến 
Cứ tưởng rằng nỏ vẫn chỗ xưa 
Đến khi lâm trận nhà vua 
Mới hay kẻ cắp đã đưa đi rồi 
Giặc đuổi gấp, bén sau chân ngựa 
  
Tới đường cùng núi Dạ chắn ngang 
Thục Vương ngửa mặt mà than   
"Nỏ thần vô dụng, Rùa thần cứu ta" 
Rùa hiện ra, nhìn vua rối gắt : 
  
"Kẻ ngồi sau là giặc biết không ?" 
Mị Châu tình đã nặng lòng 
Rắc đường lông ngỗng để chồng tìm theo 
Vua quay lại, chém vèo một nhát 
  
Nàng đã ra cái xác không hồn 
Từ đây triều Thục mất luôn 
Năm mươi năm chẵn chỉ còn vết lông (257-208TCN) 
Đất Phiên Ngung vốn giòng Chân Định 
  
Vua Triệu Đà thôn tính Lĩnh Nam 
Là người quỷ quyệt, mưu thâm 
Đã từng hỏi thử : "Ta bằng Lưu Bang ?" 


THỜI ĐẠI NHÀ TRIỆU (207 - 111 TCN) 
ÂU LẠC TRIỆU ĐÀ (VŨ ĐẾ) (207 - 137 TCN) 
ở ngôi 71 năm 

Nam Việt Vương Triệu Đà xưng đế (207TCN) 
Năm Mậu Ngọ làm lễ lên ngôi 
Giang sơn hùng cứ một thời 
Cất quân chiếm lấy đất ngoài Trường Sa 
  
Đánh Ngô Nhuế chạy xa khỏi đảo 
Nơi biên thùy tiến thảo viễn chinh 
Quyền uy riêng một triều đình 
Dùng cờ Tả đạo xưng quyền đế quân 
  
Triệu Vũ Đế thâu dần đất nước 
Ở phía Nam tới được Việt Thường 
Bắc Phương thì đến biên cương 
Cùng người Trung Quốc vạch đường phân ranh 
  
Hán Văn Đế trị bình cường thịnh (179 TCN) 
Sai người vào Chân Định tìm ra 
Mộ phần, gia tộc Triệu Đà 
Sửa sang miếu mạo mấy tòa cung lăng 
  
Kể từ đó, hai phương giao hảo 
Hán và Đế xếp giáo lui binh 
Bàng dân thiên hạ yên tình 
Nước nhà thịnh trị thanh bình cả hai 
  

VĂN VƯƠNG (137 - 125 TCN)   
ở ngôi 12 năm 
  
Cháu là Hồ, con trai Trọng Thủy 
Nối ngôi vua, Vũ Đế trao cho 
Văn Vương học đạo Thuấn Nghiêu 
Lấy nhân lễ nghĩa làm điều trị dân 
  
Mân Việt Vương cho quân xâm lấn 
Nam Việt xưa thuộc Hán từ lâu 
Kiến Nguyên sai tướng vào chầu 
Giúp giùm Nam Việt, kết nhau lúc này 
  
Lời giao ước chung tay chống giặc 
Giữa hai miền Nam Việt - Trung Hoa 
Nếu khi gặp việc can qua 
Thì cùng hợp sức để mà cứu nhau 
  
Vì Văn Vương ơn sâu cầu cạnh 
Cho nên Vua bàn tính thiệt hơn 
Sai người sắm sưả đưa con 
Đem qua nhà Hán để làm con tin   
  
Triệu Văn Vương ngồi trên gần được 
Mười hai năm nối nghiệp Triệu Đà (137 - 125 TCN) 
Anh Tề lúc trước cho qua 
Nay quay trở lại thay cha trị vì 
  

MINH VƯƠNG ( 125 - 113 TCN)   
ở ngôi 12 năm 
  
Mới vừa về, lên ngôi Thiên tử (124 TCN) 
Triệu Minh Vương đã phụ lòng tin 
Bỏ trưởng, lập thứ lòng riêng 
Phong Cù Hoàng hậu gây thêm bất hòa 
  
Mất kỷ cương quốc gia phân hóa 
Phép nước suy mối họa gần bên 
Vợ thì dâm loạn chuyên quyền (112 TCN) 
Con còn bé bỏng đưa lên trị vì 
  
Hán Nguyên Đỉnh tính bề xâm lược 
Sai Ngụy Thần dùng chước gián ly 
Khi dụ dỗ, lúc răn đe 
Khuyên vua phiên thuộc theo về Bắc Phương 
  

AI VƯƠNG (113 - 112 TCN)   
ở ngôi 1 năm 
  
Triệu Ai Vương sức hèn tuổi trẻ 
Thái hậu là một kẻ trăng hoa 
Giữa triều Tể Tướng Lữ Gia 
Vì dân can gián nhưng bà chẳng nghe 
  

THUẬT DƯƠNG VƯƠNG (112 - 111 TCN)   
ở ngôi 1 năm 
  
Lữ Gia vì nước nhà họ Triệu 
Vung thước gươm kết liễu Ai Vương 
Lập con trưởng của Minh Vương 
Tên là Kiến Đức, Thuật Dương Vương hầu 
  
Không bao lâu, biết vua bị giết 
Nguyên Đỉnh bèn thừa dịp ra tay 
Phiên Ngung sắp đặt mấy ngày 
Mùa Đông Canh Ngọ bao vây thành trì (111 TCN)

Tượng Thờ dù đổ vẫn thiêng 
Miếu thờ bỏ vắng vẫn nguyên miếu thờ






THỜI ĐẠI BẮC THUỘC NHÀ TÂY HÁN   
(110 - 39 SCN) 
  
Nước suy vi, dân tình ta thán 
Tổ quốc chừ quân Hán cướp đi 
Đất phân chín quận , giặc chia 
Đặt quan cai quản, sau khi giết người 
  
Đất Lĩnh Nam từ thời lập quốc 
Đến bây giờ lại mất vào tay 
Nước ta Bắc thuộc từ rày (110 TCN) 
Giặc gây thảm cảnh đọa đày nhân dân 
  
Đặt đất Nam làm đô hộ phủ 
Thạch Đái là thứ sử Giao Châu 
Tích Quang văn hóa thâm sâu   
Tiếp theo Tô Định tham giàu bạo quan (110 TCN - 39) 
  
Ở Giao Chỉ người dân còn nhớ 
Công của người Thái Thú Nhâm Diên 
Dạy ta cày cấy canh điền 
Tỏ lòng tưởng niệm lập đền khói nhang 
  
Thời Tây Hán lầm than khốn đốn 
Suốt thời gian trăm bốn chín năm (149) 
Bao nhiêu uất hận hờn căm 
Thêm tên Tô Định tham tàn hại dân 
  
THỜI ĐẠI TRƯNG NỮ VƯƠNG -   
TRƯNG VƯƠNG 40 - 43 ở ngôi 3 năm 
  
Hai Bà Trưng con quan Lạc tướng 
Quê Phong Châu thuộc huyện Mê Linh 
Trưng Trắc đến tuổi trưởng thành 
Cùng chàng Thi Sách, kết tình phu thê 
  
Thù Tô Định lắm bề hà khắc 
Lại giết chàng Thi Sách tướng quân 
Tham tàn một lũ bất nhân 
Đọa đày thiên hạ muôn phần đớn đau 
  
Thù Tô Định không sao kể xiết 
Cùng với em thề quyết một lòng 
Nam nhi đánh với quần hồng 
Để coi nhi nữ vẫy vùng thử xem 
  
Bà Trưng Trắc cùng em Trưng Nhị 
Phất cờ đào quyết chí trừ gian 
Thù chồng không trả nào cam 
Nước còn nô lệ chẳng kham lao tù 
  
Vua nhà Hán, khởi từ năm Sửu (41) 
Cho Phục Ba sang cứu Phong Châu 
Lưu Long, Phù Lạc phong hầu 
Đặt làm phó tướng dẫn đầu tiến binh 
  
Ở Mê Linh, cùng dân cả nước 
Để sẵn sàng chặn bước xâm lăng 
Cửu Châu , Hợp Phố , Nhật Nam 
Thanh Trì , Nam Hải , Lĩnh Nam theo về 
  
Lệnh phát đi, đánh nhanh rút gọn 
Dụ giặc vào chia mỏng địch quân 
Kẻ thù như nước đang dâng 
Ào ào tiến đến đã gần Tây Nhai 
  
Trước thế giặc như loài lang sói 
Sợ quân mình khó nổi đánh nhau 
Vua bà ra lệnh lùi sâu 
Vào vùng cứ địa, đào hào cắm chông 
  
Trận khởi đầu giết xong Hàn Vũ 
Giết tên này ở chỗ Tây Nhai 
Trăm quân giặc chết trận này 
Khiến cho Mã Viện phải thay ý đồ 
  
Vượt sông Hồng thừa cơ đánh úp 
Lịnh Hai Bà : Tạm chớ giao tranh 
Bảo toàn lực lượng để dành 
Cấm Khê đợi lịnh, đánh nhanh bất kỳ 
  
Giặc biết ý cho đi từng đội 
Lấn chiếm dần không vội ra quân 
Binh ta đánh chậm, cầm chân 
Điều quân đại chiến ở gần Hát Giang 
  
Dưới lọng vàng, trên đầu voi chiến 
Bóng hai bà ẩn hiện trong sương 
Cờ đào phấp phới hiên ngang 
Quần thoa nhi nữ mỡ đường tiến quân 
  
Sau một trận giao tranh ác liệt 
Sa cơ đành tuẫn tiết hy sinh 
Hát Giang nước biếc gieo mình 
Ơn đền nợ nước, tình riêng với chồng 
  
Hai Bà Trưng một lòng với nước 
Vì cơ đồ vị quốc vong thân   
Trăm năm nước chảy đá mòn 
Vẫn còn in lại dấu chân vua Bà 
  
Năm Quý Mão hai bà tuẫn tiết 
Trước mười năm ở tít Trung Đông (43) 
Chiên con là chúa Hài Đồng 
Chết trên thánh giá vì lòng độ nhân 
  
Rút về Nam, Đô Dương vào núi 
Cố tìm đường đánh đuổi Hán quân 
Nghĩa binh Chu Bá theo chân 
Mấy năm kháng chiến yếu dần tiêu hao 
  
"Cột Đồng gãy thì Giao Châu diệt" 
Là lời thề tướng giặc ghi đây 
Phục Ba đúc, dựng cột này 
Cổ Lâm dấu tích đến nay khó tìm 
  

THỜI ĐẠI BẮC THUỘC NHÀ ĐÔNG HÁN (43 -226) 
  
Quân Đông Hán gọng kềm siết chặt 
Trị dân Nam mặc sức giam cầm 
Tha hồ vơ vét, tham lam 
Cướp theo của cải bạc vàng mang đi 
  
Những Thái Thú người Di, người Hán 
Rất nhiều tên tán tận lương tâm 
Làm quan đâu được vài năm 
Vén thu lông trĩ, kỳ nam đem về 
  
Năm Canh Tuất (190) Man Di Nam Chiếu 
Quy tụ người ở đạo Nhật Nam 
Cũng như dân ở Tượng Lâm 
Lập nên nước mới là Chàm hiện nay 
  
Nước Lâm Ấp tôn ngay thủ lĩnh 
Là Khu Liên thống lĩnh toàn dân 
Về sau đổi lại Hoàng Vương 
Đất đai khai phá mở mang xuống dần 
  
Hán Trung Bình vào năm Giáp Tý (184) 
Giao Lý Tiến quản lý Giao Châu 
Rồi sai Sĩ Nhiếp về sau 
Phong chức Thái Thú cầm đầu từ đây 
  

THỜI ĐẠI BẮC THUỘC NHÀ ĐÔNG NGÔ (226 - 280) 
  
Sĩ Nhiếp người Vấn Dương, nước Lỗ 
Cuối năm Dần đầu với Ngô Vương 
Tôn Quyền cho gửi thư sang 
Giữ nguyên chức tước, phong hàm Tướng Quân 
  
Quân xâm lược dần dần áp đặt 
Lấy luật Tàu ép bắt dân ta 
Đổi thay phong tục đã qua 
Lâu ngày đồng hóa, dần dà diệt luôn 
  
Năm Bính Dần nữ vương Triệu Ẩu (246) 
Dấy dân quân chiến đấu diệt Ngô 
Núi Nưa tụ nghĩa dựng cờ 
Giết viên thứ sử nhà Ngô đương thời 
  
THỜI ĐẠI TRIỆU THỊ TRINH(248 - 248) 
ở ngôi 1 năm 
  
Triệu Thị Trinh là người nhan sắc 
Cùng anh là Quốc Đạt cầm quân 
Lệnh Bà sức khỏe đang xuân 
Cỡi đầu voi dữ diệt quân bạo tàn 
  
Trong Núi Nưa, nuôi quân dạy tướng 
Cờ mao dùng khiển tướng điều binh 
Khiến cho giặc phải rùng mình 
Tôn Quyền biệt phái sai Hành Dương sang 
  
Triệu Trinh nương linh hồn chiến đấu 
Trước ba quân tả hữu giáp vàng 
Dân tôn "Lệ Hải Bà Vương" 
Tên Bà nghe đến kinh hoàng giặc Ngô 
  
Chúa Đông Ngô mưu mô quỷ quyệt 
Nhưng lệnh bà quyết diệt ngoại bang 
Đánh cho Lục Dận kinh hoàng 
Đánh cho quân giặc hết đường rút lui 
  
Đất Mỹ Hóa là nơi tử chiến 
Giặc xếp hàng Phú Điếu chôn thây 
Ngô vương chiến thuật đổi ngay 
Dằng dai phản kích đêm ngày cầm chân 
  
Lũ Giặc Ngô lâu dần trụ vững 
Chiếm từ từ dân chúng chung quanh 
Bà Triệu rút bỏ khỏi thành 
Nghĩa quân kiệt sức nên đành bại vong (248) 
  
Dòng sông Lương binh không thấy bóng 
Dáng Nhụy Kiều nữ tướng năm nao 
Phất phơ một ngọn cờ đào 

Sơn hà phút chốc lọt vào ngoại bang 

Xem tiếp tại thivien.net


Last edited by QaniTri on 31st January 2016, 12:32; edited 2 times in total

Admin

Male Libra Monkey
Tổng số bài gửi : 1291
Tiền xu Ⓑ : 3381
Được cảm ơn № : 3
Ngày khởi sự Ngày khởi sự : 2013-01-07
Đến từ Đến từ : HCMC
Côngviệc / Sởthix Côngviệc / Sởthix : Languages, Softwares, Sciences, Martial arts
on 31st January 2016, 11:37

VIỆT NAM LƯỢC SỬ DIỄN CA - THÁI BÁ TÂN



MỤC LỤC

Lời mào đầu

Phần Một: Lịch sử Việt Nam đến thế kỷ thứ Mười.

1.     Vũ trụ và trái đất
Cuốn sách và chiếc giỏ đựng than.
2.     Sự sống trên trái đất.
Truyện Tấm Cám.
3.     Loài vượn cổ
Anh chàng chăn lợn
4.     Xã hội nguyên thủy
Hai con dê qua cầu
5.     Các quốc gia cổ đại.
Cậu bé và ba điểm một.
6.     Nước Văn Lang
Sự tích bánh chưng, bành dày.
7.     Nước Âu Lạc
Mị Châu, Trọng Thủy.
8.     Hai Bà Trưng.
Ông già và thần chết.
9.     Bà Triệu
Vua lợn
10.             Nho Giáo và Phật Giáo.
 Mười voi không được bát nước xáo.
11.             Lý Bí và nhà Tiền Lý
 Ăn quả khế, trả cục vàng.
12.             Triệu Quang Phục và nhà Hậu Lý.
Trên xe buýt
13.             Mai Thúc Loan
 Trứng ngót.
14.             Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng.
 Bà làm bánh và con trai.
15.             Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo, Dương Đình Nghệ.
 Truyện Lưu Bình, Dương Lễ.
16.             Ngô Quyền.
 Lời Phật dạy con trai.
          17. Nước Chăm-pa
      Cậu bé và cây táo.
18.             Nước Phù Nam, nước Chân Lạp
 Sự tích trầu cau.

Phần Hai - Từ thế kỷ thứ Mười đến thế kỷ    thứ Mười Chín.

1.     Buổi đầu độc lập và Đinh Bộ Lĩnh.
Con ngựa đá.
2.     Lê Đại Hành và nhà Tiền Lê.
Thái hậu Dương Vân Nga.
3.     Lý Công Uẩn và đời nhà Lý
Kinh Thánh.
4.     Lý Thường Kiệt.
Nguyên phi Ỷ Lan.
5.     Trần Thủ Độ
Sự tích trâu vàng Hồ Tây.
6.     Các vua Trần.
Lý do.
7.     Ba lần chiến thắng giặc Nguyên Mông.
Sự tích con thạch thùng.
8.     Trần Hưng Đạo.
Tình mẫu tử.
9.     Các danh tướng đời Trần.
Sự tích quả dưa hấu
10.             Bốn nhân vật nổi tiếng đời Trần.
 Chuyện người học trò của Chu Văn An.
11.             Chiến thắng Vân Đồn và Bạch Đằng.
 A-la-đanh và cây đèn thần.
          12. Hồ Quí Ly
      Người Việt Nam xây Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh.
13.             Thành Nhà Hồ.
 Tìm Phật.
14.             Lê Lợi
                Một người đãng trí.
15.             Khởi nghĩa Lam Sơn.
 Giàu, nghèo.
16.             Lê Thánh Tông.
 Người đẹp và quái vật.
17.             Các nhân vật nổi tiếng đời Lê Sơ.
 Tiền kiếp của vua Minh Thiền Tông
18.             Mạc Đăng Dung.
 Ai mua hành tôi.
19.             Nam Bắc triều và Đàng Trong, Đàng Ngoài.
 Chúa Chổm.
20.             Đạo Thiên Chúa, chữ Quốc Ngữ, Chữ Nôm.
 Bà chúa Liễu Hạnh.
21.             Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.
 Chuyện con ếch muốn ta bằng con bò.
22.             Khởi nghĩa nông dân thế kỷ 18 và đại thắng quân Thanh.
 Nàng tiên cá.
23.             Quang Trung Hoàng Đế
 Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn.
24.             Chiến tranh Tây Sơn - Chúa Nguyễn.
 Thằng hèn vĩ đại.
25.             Cao Bá Quát.
 Giai thọa về Cao Bá Quát.

Xem toàn bộ tại blog tacgiathaibatan (8 phần):

1 2 3 4 5 


Admin

Male Libra Monkey
Tổng số bài gửi : 1291
Tiền xu Ⓑ : 3381
Được cảm ơn № : 3
Ngày khởi sự Ngày khởi sự : 2013-01-07
Đến từ Đến từ : HCMC
Côngviệc / Sởthix Côngviệc / Sởthix : Languages, Softwares, Sciences, Martial arts
on 31st January 2016, 12:31
VIỆT NAM LƯỢC SỬ DIỄN CA
Nguyễn Văn Mỹ

Việt Nam lược sử diễn ca là một bài thơ của Nguyễn Văn Mỹ nói về Lịch sử Việt Nam dễ đọc, dễ nhập tâm mà dân làng Đội có thể nghêu ngao khi học về lịch sử



Nhớ lại thuở xưa Lạc Long Quân dựng nước
Cùng Âu Cơ thành lập họ Hồng Bàng
Mười tám đời kế tiếp ở Văn Lang
Bao sự tích còn lưu truyền hậu thế
Thái tử Lang Liêu được vua Hùng trọng nể
Bánh dày bánh chưng truyền lại đến mai sau
Huyền thoại ngày xưa Sơn Thủy đánh nhau
Là khát vọng chống thiên tai thú dữ
Công chúa Tiên Dung cùng Chữ Đồng Tử
Quyết yêu nhau nên bất luận sang hèn
Lao động ngoan cường dưa hấu An Tiêm 
Danh Phù Đổng còn nêu gương rực rỡ


Nước Âu Lạc theo Loa Thành đổ vỡ
Gươm Lữ Gia vấy máu Triệu An Vương
Trai ngàn năm Bắc thuộc chịu đau thương 
Dân tộc Việt đã nhiều phen quật khởi
Hai Bà Trưng đất Mê Linh thắng lợi
Tiếp theo sau là nữ tướng Nhụy Kiều
Từ Cửu Chân vùng dậy cưỡi voi theo
Lý Nam Đế trao quyền cho họ Triệu
Đầm Dạ Trạch lừng danh nơi hiểm yếu
Mai Thúc Loan rồi kế đến Phùng Hưng
Đất Giao Châu danh Khúc Hạo vang lừng
Dương Đình Nghệ đắp xây nền tự chủ

Nhờ Ngô Quyền Bạch Đằng Giang bất tử
Thành mồ chôn quân Nam Hán hung tàn
Sau nhà Đinh quan thập đạo Lê Hoàn
Lại phá Tống bắt giết Hầu Nhân Bảo
Lý Thường Kiệt tiến quân như vũ bão
Hạ Khâm, Liêm rồi vây hãm Ung Châu
Quân nhà Trần tính kế cùng nhau
Phá Mông Cổ đã có Trần Quốc Tuấn
Hội nghị Diên Hồng kết đoàn sức mạnh
Khí giới nào diệt nổi dân ta
Hễ có xâm lăng đoàn kết một nhà
Già trẻ gái trai chung lòng giữ nước
Kháng chiến chống Minh mười năm ác liệt
Bình Định Vương tuốt kiếm ở Lam Sơn
Hội thề Lũng Nhai cờ dậy bốn phương
Bút Nguyễn Trãi sáng bừng hồn Đại Việt
Sôi sục quân thù quân Thanh xâm lược
Từ một vùng quê Bình Định, Tây Sơn
Gươm Quang Trung đã trút hết căm hờn
Lên hàng chục vạn quân Tôn Sĩ Nghị
Xuân Kỷ Dậu quyết một lòng tướng sĩ
“Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn
Đánh cho sử tri Nam Quốc anh hùng chi hữu chủ”



Cuộc chiến đấu không bao giờ ngơi nghỉ
Lại vẫn còn tiếp tục đến gần đây
Khi quân thù kéo đến từ Phương Tây
Gò Công nhớ Phó Lãnh Binh Trương Định
Đồng Tháp Mười Võ Duy Phương thống lĩnh
Vùng Tân An lại có Nguyễn Hữu Huân
Lửa bừng Nhật Tảo Nguyễn Trung Trực ra quân
Khắp lục tỉnh vang lời thề chiến đấu
Nguyễn Tri Phương với trái tim nung nấu
Xé bông băng nguyện đói chết theo thành
Tiếp theo sau Hoàng Diệu cũng lừng danh
Khi tuẫn tiết ở phía trong Võ Miếu
Hịch Cần Vương vua Hàm Nghi xuống chiếu
Núi Vụ Quang: Cao Thắng, Phan Đình Phùng
Lũy Ba Đình Đinh Công Tráng tận trung
Khu Bãi Sậy lưu danh Nguyễn Thiện Thuật
Rừng Yên Thế khiến sài lang mất mật
Khi nghe tên Đề Thám họ Hoàng Hoa
Phong trào Duy Tân lan khắp gần xa
Khởi xướng có Sào Nam, Tăng Bạt Hổ
NguyễnThượng Hiền, Dương Bá Trạc, Nguyễn Quyền
Lập Đông Kinh Nghĩa Thục để tuyên truyền
Chống sưu thuế lừng danh Trần Quý Cáp
Cao Vân, Thái Phiên điên đầu giắc Pháp
Bom nổ rền, Phạm Hồng Thái hiên ngang
Nguyễn Thái Học và đồng đội đàng hoàng
Nhìn máy chém hô: “Việt Nam Độc Lập”

Nguyễn Tất Thành là vì sao sáng nhất
Người mở đường cho Cách Mạng tiến lên
Lịch sử sang trang - Đảng Cộng Sản Việt Nam
Chào Nghệ Tĩnh sóng trào dâng Xô Viết
Khởi nghĩa Nam Kỳ và Bắc Sơn bất diệt
Chào
Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân
Chào
Tổng Khởi Nghĩa Tháng Tám thành công
Đẹp vô cùng là mùa thu năm ấy
Chưa kịp ngồi cả nước liền đứng dậy
Đi suốt chín năm kháng chiến gian lao
Kết thành Điện Biên lừng lẫy tự hào
Lại đi suốt hai mươi mốt năm không nghỉ
Cả dân tộc thề chung một ý chí
“ Không có gì quí hơn độc lập tự do”
Xẻ dọc Trường Sơn thống nhất nước nhà
Chiến dịch cuối cùng mang tên Người đại thắng
Quét sạch xâm lăng trời cao đất rộng
Hoà Bình rồi Hạnh Phúc nở thêm hoa
Vọng ngàn năm lời dạy ông cha
Con Cháu Rồng Tiên:
Thủy Chung
Nhân Nghĩa


Nguồn: http://z4.invisionfree.com/LangDoiTanBinh/ar/t186.htm

Dự phòng: http://leminhquoc.vn/the-loai-khac/tac-pham-cua-ban-be/1166-nguyen-van-my-viet-nam-su-luoc-dien-ca.html
    Flag Counter