The forum of documents and methods for study - Lượm lặt kiến thức


Tìm hiểu về Tiếng Nhật

Share

congdantoancau

Tổng số bài gửi : 624
Tiền xu Ⓑ : 1712
Được cảm ơn № : 25
Ngày khởi sự Ngày khởi sự : 12/05/2014

Tìm hiểu về Tiếng Nhật

Bài gửi by congdantoancau on 8th June 2014, 19:31



Ngoài chữ Hán, trong tiếng Nhật có 2 loại chữ khác là hiragana và katakana. 2 loại chữ kana này đều là chữ phiên âm do người Nhật phát minh ra. Ngày xưa, người Nhật không có chữ viết riêng nên ban đầu mượn âm chữ Hán để ghi chép câu nói của mình và soạn thảo văn bản. Sau đó, trong thời Heian (794-1185), người Nhật dựa trên chữ Hán tạo thành 2 loại chữ kana để ghi chép câu nói. Đó chính là hiragana và katakana. Hiragana vốn là chữ Hán viết giản lược còn katakana là một phần của chữ Hán tạo thành. Katakana dùng để phiên âm các chữ có nguồn gốc nước ngoài. Có thể nói, những chữ viết của tiếng Nhật đều xuất phát từ chữ Hán.
Bên cạnh đó, người Nhật sử dụng các từ vựng của Trung Quốc để làm cho tiếng Nhật phong phú hơn, như “gakusei” (học sinh), “seikatsu” (sinh hoạt). Cách đọc của những từ mượn như trên là On-yomi. On-yomi của 1 chữ cũng có nhiều cách đọc. Ví dụ, chữ “hành” có cách đọc On-yomi là “ko”, “gyo”, “an”. Điều này liên quan đến lịch sử giao lưu văn hóa giữa Nhật Bản và Trung Quốc. Nói cách khác, các cách đọc On-yomi phản ánh cách đọc tiếng Trung Quốc của từng thời đại và địa điểm giao lưu giữa 2 nước. Trong On-yomi có 4 nhóm là Ngô âm, Hán âm, Đường âm và Tống âm. Ngô âm là cách đọc theo âm Hán của vùng nước Ngô cổ đại, tức vùng hạ lưu sông Trường Giang. Hán âm là cách đọc theo người thủ đô Trường An trong thời đại nhà Đường. Vào thời Đường, tức thời đại Nara và Heian của Nhật Bản, nhiều nhà sư, lưu học sinh của Nhật sang Trường An để học hỏi văn hóa tiên tiến của Trung Quốc. Và cùng với nhiều cuốn sách, cách đọc chữ Hán của thời kỳ này được đưa vào NB. Cách đọc Hán âm cũng được gọi là “Chính âm”. Đường âm là những cách đọc được đưa vào Nhật từ các thời đại nhà Tống, Nguyên, Minh, Thanh của Trung Quốc, còn Tống âm là những cách đọc do các nhà sư trong thời đại Kamakura (thế kỷ 12-14) của Nhật Bản đưa về cùng với các quyển kinh Phật giáo. Đối với chữ “hành”, đọc theo Ngô âm là “gyo”, Hán âm là “ko”, Đường âm là “an”.

Trong thời Edo đã có một số học giả đề cập tới những đặc trưng kể trên của tiếng Nhật, nhưng khi đó chưa đạt nhiều thành quả quan trọng. Sau khi ngành ngôn ngữ học của phương Tây được đưa vào Nhật Bản, các nhà nghiên cứu áp dụng môn học này vào việc phân tích những đặc trưng của tiếng Nhật, để tìm hiểu xem tiếng Nhật thuộc hệ nào trong số các hệ thống ngôn ngữ trên thế giới.

Cần phải nói, về vấn đề này chưa có kết luận thống nhất trong ngành nghiên cứu tiếng Nhật. Có nhiều học thuyết về nguồn gốc tiếng Nhật nhưng hai học thuyết được nhiều người quan tâm nhất là:
(1) Tiếng Nhật thuộc nhóm thứ tiếng Ural-Altai, cùng với tiếng Triều Tiên, tiếng Mông Cổ, tiếng Ainu.
(2) Tiếng Nhật chịu ảnh hưởng của các thứ tiếng miền nam nhiều hơn, là các thứ tiếng thuộc nhóm Autronesia như tiếng Malaysia, Indonesia, Philippines hoặc nhóm thứ tiếng Miến Điện-Tây Tạng.
Tóm lại, tuy không phải là kết luận cuối cùng nhưng người ta cho rằng, khoảng 5.000-10.000 năm trước, tại vùng đông bắc lục địa Châu Á đã hình thành một thứ tiếng tổ tiên của tiếng Nhật, liên quan đến nhóm tiếng Altai và ngữ pháp tiếng Nhật hiện nay. Sau đó, thứ tiếng này bắt đầu được chia thành 3 thứ tiếng khác là tiếng Nhật, tiếng Triều Tiên và tiếng Ainu. Và khoảng 3.000-4.000 năm trước, các từ vựng cơ bản được đưa sang Nhật Bản từ các thứ tiếng miền nam như Indonesia, Khơme, v.v… Cách đây khoảng 2.000-2.500 năm, các từ vựng như số từ và từ chỉ các bộ phận của cơ thể con người, thực vật được đưa sang Nhật Bản từ khu vực miền nam Trung Quốc. Rồi sau công nguyên, các từ vựng chữ Hán được đưa từ Trung Quốc vào Nhật Bản.

Một đặc điểm trong tiếng Nhật không thể không đề cập đến, là có rất nhiều từ mượn. Từ mượn của Trung Quốc được sử dụng thường xuyên trong cuộc sống, số lượng quá nhiều và lại được viết bằng chữ Hán, nên gần như không cảm thấy rằng chúng có nguồn gốc từ tiếng nước ngoài. Ngày nay chính người Nhật cũng gần như không thể nhận ra những từ mượn nước ngoài đầu tiên (nhiều từ là của tiếng Sanskrit, Ainu hoặc Triều Tiên) vì hầu hết được viết bằng chữ Hán chứ không phải bằng hệ katakana. Nhiều từ du nhập từ lâu trong lịch sử Nhật Bản và thường là những từ liên quan đến cuộc sống hàng ngày của người Nhật. Nhiều từ được mượn từ tiếng Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan từ thế kỷ 16-17.

Cuối thời kỳ Edo (1603-1868), các từ tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Nga bắt đầu xuất hiện. Hiện nay, so với các từ du nhập vào Nhật Bản sau này, số từ mượn của tiếng Anh nhiều hơn tất cả các thứ tiếng khác, cả các từ khoa học lẫn từ thường dùng trong cuộc sống. Ngoài ra còn có các từ mượn tiếng Đức và tiếng Italia.

Số lượng chữ Hán hiện sử dụng ở Nhật Bản được giới hạn chỉ còn một phần trăm rất nhỏ trong số khoảng 40.000 đến 50.000 chữ Hán mà chúng ta thấy trong các cuốn từ điển đồ sộ. Năm 1946, bộ giáo dục Nhật hạn chế số lượng chữ Hán dùng trong các văn bản chính thức là 1.850 chữ. Năm 1981, số lượng Hán tự thường dụng được quy định là 1.945 chữ.
Giới thiệu sơ lược về tiếng nhật.

Tiếng Nhật có 4 loại chữ:

1/ Hiragana ひらがな: Được sử dụng phiên âm những chữ Hán tự, là hệ thống chữ mềm (đường cong mềm mại) cơ bản cấu tạo nên tiếng Nhật, dành cho các em mẫu giáo mới bắt đầu tập viết. Chữ Hiragana chiếm một vị trí quan trọng nhất trong việc học tiếng Nhật. Ko thuộc bảng Hiragana thì sẽ không bao giờ học được tiếng Nhật .
2/ Katakana カタカナ: Phiên âm những từ tiếng nước ngoài, là hệ thỗng chữ nét cứng (viết nét rất nhọn) thường để phiên âm những từ vay mượn từ tiếng Anh, tên người nước ngoài và rất hay sử dụng trong đời sống, hay kết hợp với chữ Kanji để tạo nên nghĩa. Cũng như Hiragana, số lượng chữ Katakana bạn gặp trong tiếng Nhật không phải là ít, nên nhất định phải học thuộc cả 2 bảng chữ cái này .
3/ Romaji: Dùng để phiên âm ra chữ Latinh cho người chưa biết gì về tiếng Nhật cũng có thể học được. Dạng chữ này rất phổ biến khi các bạn tìm lyric của các bài hát tiếng Nhật. Người Nhật rất ít khi dùng loại chữ này, khi và chỉ khi phiên âm ra cho người nước ngoài đọc được, hoặc viết tên file trên máy tính, hoặc dùng làm tên website.
4/ Kanji 漢字: Chữ Kanji còn được gọi là Hán tự có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng cách dùng rất khác tiếng Trung Quốc. Trong văn bản tiếng Nhật, thường thường chữ Kanji không được phiên âm cách đọc, mà chỉ được phiên âm đối với những chữ Hán cổ quá khó, hoặc phiên âm cho sách dùng cho người học tiếng Nhật.

Một vài câu giao tiếp thông dụng cần học thuộc lòng :
Ohayo gozaimasu: Chào buổi sáng
Konnichiwa: Chào buổi trưa, chìu. Nói chung là xài lúc nào cũng ok hết .
Konbanwa(đọc là kơm ban qua): Chào buổi tối
Hajimemashite: Lần đầu gặp mặt phải nói!
O genki desuka? : Anh khoẻ không ?
Hai: có
Iee: không
Arigatou: Cám ơn
Sumimasen: Xin lỗi
Sayonara: Tạm biệt
Oyasuminasai: Chúc ngủ ngon
Ngữ âm trong tiếng Nhật

1. Cách đọc:
A. TRƯỜNG ÂM (ちょうおん : 長音): trong tiếng Nhật, có 1 số trường hợp, các chữ không chỉ đọc như nó sẵn có mà đọc kéo dài ra nhờ kết hợp với các chữ khác. Khi đó nghĩa của nó cũng khác đi ,các bạn nên chú ý.
+ おばさん obasan : cô, bác

+ おばあさん obaasan : bà, bà cụ

+ おじさん ojisan : chú, bác

+ おじいさん ojiisan : ông,ông cụ

+ ゆき yuki : tuyết

+ ゆうき yuuki: dũng khí

+ え e: bức tranh ええee: vâng, dạ (dùng trong văn nói)

+ とる toru : chụp hình

+ とおる tooru : chạy (tàu, xe)

+ ここ koko: ở đây

+ こうこう kookoo: hiếu thảo

+ へや heya: căn phòng

+ へいや heiya: đồng bằng
*Đặc biệt trong katakana khi muốn đọc trường âm thì ta biểu thị bằng dấu “ –“
Ví dụ :
カード kaado:card
タクシー takushii : taxi
スーパー suupaa: supermarketting
テープ teepu : băng casset
ノート noote: cuốn tập,cuốn vở

B. ÂM NỐI
Đây là các cách đọc của từ ん un, cách đọc từ này chủ yếu giống như chữ N trong tiếng Việt, còn 1 số trường hợp khác hiếm hoi đọc là M;P;B.

C. KHUẤT ÂM:

Trong tiếng Nhật,có 1 số trường hợp bạn thấy rằng chữ つ tsu bị viết nhỏ っ chứ không viết lớn như bình thường. Khi đó bạn đọc giống như chữ T trong tiếng Việt.Ví dụ : にっき nikki : nhật kí ; きって kitte : con tem…

D. ẢO ÂM : Cũng tương tự như trường hợp chữ っ stu bị viết nhỏ,các từ ya yu yo trong hiragana và các nguyên âm a i u e o trong katakana cũng thường bị viết nhỏ.Nó làm biến đổi cách phát âm của từ đi trước nó,người ta gọi là ảo âm.
Ví dụ: ひゃく hyaku : một trăm; ソファ sofa : ghế sofa…

E. TRỌNG ÂM : vì có rất nhiều từ đồng âm nên tiếng Nhật cũng có cách nhấn giọng khá là đa dạng,cái này thì phải tự học từ mới ,luyện nhiều thì các bạn mới rành được,thuộc về kinh nghiệm rồi.

Lấy ví dụ là từ hashi はし橋: cây cầu ,đọc là há sì (nhấn âm 2) còn khi はし箸: đôi đũa thì đọc là hà sí( nhấm âm đầu). Lưu ý là cái này còn tùy thuộc vào vùng nữa,ở tokyo thì khác còn ở osaka thì lại khác.

F. NGỮ ĐIỆU TRONG CÂU VĂN: cũng giống như tiếng Việt, trong câu khẳng định thì giọng đọc đều đều, câu hỏi thì cuối câu lên giọng. Còn câu biểu lộ sự đồng tình, cảm thán thì hạ giọng cuối câu.

BẢNG CHỮ CÁI HIRAGANA VÀ KATAKANA



    • chat
    • Messenger
    • yahoo
    • ola
    • discord
    • skype
    • zalo
    • cctalk
    Flag Counter